Hiểu bảng routing (tiếp tục)
Các lối vào trong bảng định tuyến được đánh giá so với địa chỉ IP đích của mỗi gói dữ liệu để quyết định nơi nào
gói dữ liệu nên được gửi đến. Các lối vào được đánh giá theo trật tự, và cái đầu tiên cái khớp được sử dụng để
gửi gói dữ liệu đi trên con đường của nó.
Ví dụ, giả sử gói dữ liệu được nhận trên giao diện hướng ra bên ngoài và địa chỉ đích là 10.0.1.5. Router sẽ trước
tiên xem xét entry 1, áp dụng subnet mask 255.255.255.0 để xem xét 10.0.1.0. Vì cái này khớp ID mạng trong entry 1,
gói dữ liệu sẽ được chuyển tiếp trên giao diện hướng bên trong, nơi switch có thể trao tay gói dữ liệu đi tới máy
tính đúng.
Mặt khác, giả sử một gói dữ liệu được nhận trên giao diện hướng vào bên trong và địa chỉ IP đích là 108.211.23.42.
Khi router thử entry đầu tiên, subnet mask rút địa chỉ mạng 108.211.23.42. Cái này không khớp 10.0.1.0, nên router
xem xét entry thứ hai. Subnet mask 255.255.255.255 thông báo cho router để so sánh toàn bộ địa chỉ đích với địa chỉ
IP 107.0.65.31. Vì địa chỉ đó không khớp, router thứ entry thứ ba. Lại một lần nữa, subnet mask 255.255.255.255 thông
báo cho router so sánh toàn bộ địa chỉ đích, lần này với địa chỉ IP 205.186.181.97. Lại một lần nữa, các địa chỉ
không khớp, nên router di chuyển tới entry thứ tư và cuối cùng trong bảng định tuyến. Subnet mask 0.0.0.0 giảm
toàn bộ địa chỉ đích thành 0.0.0.0, cái khớp mạng đích 0.0.0.0. Vì vậy, router chuyển tiếp gói dữ liệu tới trên
ISP’s router tại 107.0.65.31 qua giao diện hướng ra bên ngoài.
Nó có vẻ như đơn giản, nhưng trong thực tế, có nhiều hơn để đi under the hood. Trong các mạng phức tạp hơn, có nhiều
hơn 4 entries trong bảng định tuyến. Và một mạng bận rộn, một router có khả năng xử lí hàng trăm hay thậm chí hàng
nghìn gói dữ liệu mỗi giây. Ví dụ, nếu bạn có 100 người dùng trên mạng của bạn. tất cả họ lướt web, truy cập email
và sử dụng các ứng dụng khác qua router, router có một lượng khổng lồ workload.
